Phân tích giá trị hiện thực và nhân đạo trong tác phẩm Vợ chồng A phủ của Tô Hoài – Văn mẫu lớp 12

Danh mục: Soạn văn , Soạn văn tập 2

Đánh giá bài viết Phân tích giá trị hiện thực và nhân đạo trong tác phẩm Vợ chồng A phủ của Tô Hoài – Bài làm 1 của một bạn học sinh giỏi Văn tỉnh Nghệ An “Vợ chồng A Phủ” là tác phẩm tiêu biểu của Tô Hoài được rút từ tập Truyện Tây Bắc của nhà văn Tô Hoài sáng tác năm 1953. Đây là một thành công xuất sắc của Tô Hoài sau cách mạng, là thành tựu của văn học kháng chiến chống Pháp đồng ...

Phân tích giá trị hiện thực và nhân đạo trong tác phẩm Vợ chồng A phủ của Tô Hoài – Bài làm 1 của một bạn học sinh giỏi Văn tỉnh Nghệ An

“Vợ chồng A Phủ” là tác phẩm tiêu biểu của Tô Hoài được rút từ tập Truyện Tây Bắc của nhà văn Tô Hoài sáng tác năm 1953. Đây là một thành công xuất sắc của Tô Hoài sau cách mạng, là thành tựu của văn học kháng chiến chống Pháp đồng thời là tác phẩm tiêu biểu về đề tài miền núi. Với lối dẫn dắt tự nhiên hấp dẫn, truyện đã chinh phục nhiều độc giả. Qua đó dưới ngòi bút của Tô Hoài , 2 giá trị lớn càng sâu sắc hơn , giá trị hiện thực và nhân đạo.

Vợ chồng A Phủ đã phản ánh được một cách khá chân thực và sinh động bức tranh đời sống xã hội của dân tộc miền núi Tây Bắc trước ngày giải phóng Điện Biên. Cách khai thác của tác giả đã tạo ra thành công có ý nghĩa khai phá về đề tài miền núi trong văn học Việt Nam.

Qua tác phẩm người đọc thấy được trong vùng giặc Pháp chiếm đóng thời bấy giờ vẫn tồn tại chế độ lang đạo Thổ Ty, và nó còn khắc nghiệt tàn ác hơn nhiều so với chế độ phong kiến thực dân ở miền xuôi. Hiện thân của chế độ lang đạo Thổ Ty dã man ấy chính là cha con nhà thống lý Pá Tra. Chúng đã lợi dụng  cường quyền cùng hủ tục phong kiến miền núi để biến những người lao động thành nô lệ không công, lao động khổ sai như trâu ngựa để làm giàu cho chúng.

Thống lý Pá Tra đã bắt Mỵ về làm con dâu trừ nợ, Mỵ đã bao lần định trốn về với bố nhưng vì đã bị trình con ma nhà thống lý nhận mặt nên đành phải cam chịu “chờ đến ngày mà rũ xương ở đây thôiĐể củng cố cho chính sách cai trị ấy, chúng dùng tư tưởng mê tín dị đoan tạo thành một thế lực vô hình trói buộc và hù doạ người dân lao động miền núi.chúng biến những con người hiền lành , ít được tiếp xúc với những nền văn hóa tiến bộ trở thành một công cụ lao động và làm giàu k biết mệt mỏi.

Tô Hoài cũng đã cho độc giả những trang mô tả về cảnh trói người, đánh người tàn nhẫn hơn cả thời trung cổ. Ngay tới cả chồng Mị cũng không xem Mị là người, chẳng năm nào cho Mỵ đi chơi ngày Tết. “Khi thấy Mỵ muốn đi chơi, A Sử liền bước lại xách cả thúng đầy trói đứng Mị lại rồi quấn tóc vợ lên cột nhà làm cho vợ không cúi, không nghiêng đầu được nữa. Sau đó hắn trói vợ cũng như thắt cái dây lưng tắt đèn, khép cửa, dửng dưng lạnh lùng không suy nghĩ, không xúc động”. Ngay cả khi A Sử bị thương thì Mỵ bóp thuốc cho A Sử, mệt quá thiếp đi. A Sử liền “đạp chân vào mặt Mỵ” một cách tàn nhẫn, phũ phàng. Tàn nhẫn hơn thế nhà thống lí Pá Trađã có lần trói đứng một cô con dâu cho đến chết.

A Phủ cũng k phải là ngoại lệ , bị đánh khi anh dám đánh lại con quan thống lý: “A Phủ quỳ giữa nhà chịu đòn, im như cái tượng đá”. Mặt A Phủ sưng lên, môi và đuôi mắt dập chảy máu. “Người thì đánh, người thì quỳ kể lể chửi bới. Cứ như thế, suốt chiều, suốt đêm, càng hút, càng tỉnh, càng đánh”. Chưa ở đâu mạng sống và phẩm giá con người bị coi nhẹ như thế.

Tác phẩm “Vợ chồng A Phủ không chỉ vạch trần tội ác của bọn phong kiến miền núi mà còn phơi bày tội ác của bọn thực dân Pháp lâu nay đang chiếm đóng Tây Bắc..

không chỉ dưng lại với giá trị hiện thực, mà còn ẩn chứa những giá trị nhân đạo sâu sắc. Từ chính niềm cảm thông sâu sắc đối vối nỗi đau của con người,sự trân trọng những nét đẹp trong tâm hồn con người và lòng tin vào khả năng vươn dậy của họ. Và trong tác phẩm chủ nghĩa nhân đạo mới không chỉ yêu thương, đồng cảm với những nỗi khổ của con người mà còn hướng tới, nhằm giải phóng cho con người khỏi mọi xiềng xích áp bức khổ ,xây dựng cuộc sống hạnh phúc cho mình. Cách kết truyện khi Mỵ và A phủ tháo chạy,đi tìm miền đất mới .. là một trong số những nét tiêu biểu này.

Trong tác phẩm , tác giả còn muốn lên án gay gắt thế lực thực dân phong kiến mà điển hình là cha con thống lý Pá Tra, đã lợi dụng cường quyền, biến người lao động thành nô lệ không công và đối xử với họ lạnh lùng, tàn nhẫn như đối xử với con vật.

Hơn thế, Tác phẩm” Vợ chồng A Phủ” cũng góp phần chỉ ra con đường giải phóng thực sự của người lao động từ tự phát đến tự giác, từ tám tối đau thương vươn lên dưới ánh sáng của tự do dưới sự lãnh đạo của Đảng. Những giá trị này thật sự mới so với những tác phẩm cùng thời.

Truyện Vợ chồng A Phủ góp phần tái hiện một cách chân thực và sâu sắc những giá trị về cuộc sống, những triết lí sống nhân văn, những sự cảm thông của chính tác giả với đứa con tinh thần của mình.Qua tác phẩm, Tô Hoài đã lên án những thế lực phong kiến miền núi, thế lực thực dân xâm lược; và ông đặc biệt  thông cảm sâu sắc với số phận của người nông dân miền núi đồng thời khẳng định những phẩm chất tốt đẹp của họ.

Phân tích giá trị hiện thực và nhân đạo trong tác phẩm Vợ chồng A phủ của Tô Hoài – Bài làm 2

Tô Hoài trước 1945 nổi tiếng với tiểu thuyết "Dế mèn phiêu lưu ký". Đi theo Cách mạng rồi đi kháng chiến chống Pháp, Tô Hoài hoạt động ở vùng rừng núi Tây Bắc. Kết quả rực rỡ của chuyến đi thực tế dài ngày đó là tập "Truyện Tây Bắc" ra đời, được giải nhất giải thưởng Hội Văn Nghệ Việt Nam 1954-1955. "Vợ chồng A Phủ" là tác phẩm hay nhất trong trong truyện "Truyện Tây Bắc" của Tô Hoài. Truyện đã diễn tả quá trình giác ngộ và vùng dậy chống phong kiến và đế quốc của các dân tộc Tây Bắc dưới sự lãnh đạo vủa Đảng. "Vợ chồng A phủ" cũng là kết quả của một quá trình chuyển biến đến độ chín muồi của tư tưởng và tình cảm nhà văn. Tình cảm của tác giả đã quyện lẫn với tình cảm của dân tộc anh em một cách chan hòa tự nhiên, đó là tấm lòng biết ơn, thủy chung, tình nghĩa đối với các vùng du kích đã tiếp tế che chở cho cán bộ, bộ đội hoạt động ở vùng địch hậu Tây Bắc". " Vợ chồng A Phủ" là tác phẩm mang giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc.

1. Giá trị hiện thực

"Vợ chồng A phủ" tố cáo sâu sắc tội ác của bọn phong kiến miền núi Tây Bắc đối với các dân tộc vùng cao. Tác phẩm đã nói lên một cách đau xót nỗi thống khổ bao đời của các dân tộc anh em ở Tây Bắc dưới ách đô hộ của thực dân Pháp và bè lũ tay sai là quan lang, quan châu, phìa (Thái), tạo (Mường), thống lí (H'Mông).

Dưới chế độ thống trị tàn bạo man rợ của bọn thống lí, quan bang, những người đi ở trừ nợ như A Phủ, làm con dâu gạt nợ cho nhà thống lí như Mị là những "kiếp trâu ngựa", khốn khổ, nhục nhã ê chề. Thật ra những kiếp người như Mị, như A Phủ là những kẻ nô lệ ở vùng cao. Bọn thống lí là một thứ "vua" ở vùng cao, chúng có quyền sinh quyền sát đối với người dân Tây Bắc.

Chúng có quyền bắt bớ, đánh đập, bắt làm nô lệ, gả bán, thậm chí có thể giết người một cách dã man (trong truyện có nhắc đến một người vợ trong nhà thống líbị trói đứng rồi chết và A Phủ thì suýt chết). Chỉ trong một truyện ngắn mà tác giả đã mô tả được bức tranh toàn cảnh về giai cấp thống trị Tây Bắc, giá trị hiện thực của tác phẩm thật là sâu sắc. Mị là một cô gái đẹp (tả gián tiếp ví như những đêm tình mùa xuân, con trai đến đứng nhẵn đầu buồng Mị…), tài hoa (biếtthổi sáo, thổi lá cũng hay như thổi sáo) và giàu tình cảm.Sinh ra trong một gia đình nghèo, Mị bị A Sử, con trai thống lí cướp về làm vợ để trừ nợ. Mị là vợ của A Sử nhưng thực ra chỉ là một người đầy tớ, một nô lệ của gia đình thống lí. Mị lặng lẽ như một con rùa trong xó cửa, quanh năm chỉ biết vùi đầu vào những công việc lao động nặng nhọc "Tết xong thì lên núi hái thuốc phiện, giữa năm thì giặt đay, xe đay, đến mùa thì đi nương bẻ bắp… Bao giờ cũng thế, suốt đời suốt năm như thế. Con ngựa, con trâu làm còn có lúc, đêm nó còn được đứng gãi chân, đứng nhai cỏ, đàn bà con gái nhà này thì vùi vào làm việc cả đêm,cả ngày.".

Ngày tết, A Sử trói Mị trong buồng tối rồi rủ bạn đi chơi. Tô Hoài, qua nhân vật Mị còn phản ánh những tập tục man rợ của các dân tọc vùng cao. Người đàn bà khi bị cướp về trình ma thì vô hình người đàn bà (mà Mị là điển hình) đã trói cả đời mình vào nhà ấy.Nếu chẳng may chồng chết thì người ấy phải làm vợ người khác trong nhà, có khi là một người anh chồng già lụ khụ, có khi là một người em chồng còn ở tuổi trẻ con, và nếu chồng lại chết, lại vẫn phải ở với một người đàn ông khác vẫn trong nhà ấy… Phải suốt đời ở trong nhà ấy. Mị chết dần chết mòn ở trong nhà của thống lí. Ngoài những lúc còng lưng làm việc như con trâu, con ngựa thì Mị lại bị nhốt trong cái buồng kín mít chỉ được nhìn ra ngoài qua một cái "lỗ vuông bàng bàn tay, lúc nào trông ra cũng thấy trăng trắng, không biết là sương hay là nắng". A Phủ là chàng trai H'Mông nghèo khỏe mạnh, chạy nhanh như ngựa, săn bò tót rất giỏi. Con gái trong bản rất thích A Phủ, "đứa nào lấy được A Phủ cũng bằng có được con trâu tốt trong nhà". A Phủ cũng là một thanh niên yêu tự do. Ngày Tết, A Phủ rủ bạn đi chơi đánh pao, A Sử đến phá đám bị A Phủ đánh. Thống lí Pá tra bắt A Phủ đánh đập, hành hạ, phạt vạ một trăm đồng bạc trắng. A Phủ phải ở cho thống lí trừ nợ. Thế là trong nhà thống lí có thêm một con người bất hạnh nữa làm nô lệ. Mị thì làm tôi tớ trong nhà, còn A Phủ thì làm tôi tớ ngoài rừng. "Đời mày, đời con, đời cháu mày tao cũng bắt thế, bao giờ hết nợ tao mới thôi". A Phủ một mình ngoài rừng, trên núi cao đốt nương chăn bò, săn bò tót… Chẳng may một lần động rừng, hổ xuống ăn mất một con bò. Thống lí đã bắt A Phủ trói đứng suốt ngày đêm ngoài trời. Đó thể nói cha con thống lí Pá Tra và bọn tay chân như lí dịch, quan lang, xéo phải… là những điển hình cho giai cấp thống trị tàn bạo, man rợ của vùng cao Tây Bắc.

Mị và A Phủ – Hai số phận bi thảm là hiện thân của thứ nô lệ của chế độ phong kiến man rợ ở Tây Bác. Nhưng Tô Hoài không dừng lại ở việc phản ánh bản chất tàn bạo, dã man của giai cấp thống trị Tây Bắc, nhà văn còn đi sâu vào bản chất của cuộc sống của dân tộc vùng cao, phản ánh sức sống mãnh liệt của các dân tộc Tây Bắc và sự vùng dậy chiến thắng của các dân tộc Tây Bắc dưới sự lãnh đạo của Đảng.

2. Giá trị nhân đạo

Giá trị của truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” không chỉ nằm ở sự miêu tả cuộc sống chân thực và sinh động. Giá trị chủ yếu làm nên sức sống bền lâu của tác phẩm chính là ở tinh thần nhân đạo sâu sắc, thấm thía chất chứa sau mỗi trang viết giàu chất hiện thực của Tô Hoài. Giá trị nhân đạo là giá trị cơ bản của tác phẩm văn học chân chính. Nó được tạo nên bởi niềm cảm thông, chia sẻ đối với nỗi đau của con người, sự nâng niu, trân trọng những nét đẹp trong tâm hồn con người và lòng tin vào khả năng vươn dậy của họ. Chủ nghĩa nhân đạo mới không chỉ yêu thương, đồng cảm với những nỗi khổ của con người mà còn hướng tới nhằm giải phóng cho con người khỏi mọi xiềng xích, áp bức, khổ đau và tạo điều kiện cho họ trở thành những con người tự do, con người làm chủ, chiến đấu chống lại mọi thế lực bạo tàn để xây dựng cuộc sống hạnh phúc của mình.

Hiểu như vậy, chúng ta thấy tư tưởng nhân đạo của tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” trước hết được toát lên từ niềm cảm thông sâu sắc đối với số phận bất hạnh, bị mất quyền sống của người lao động miền núi, mà tiêu biểu là Mị và A Phủ. Mị vốn là một cô gái xinh đẹp mang trong mình biết bao phẩm chất đẹp. Thế mà…kể từ khi bước chân về làm con dâu trừ nợ, thực chất là nô lệ không công cho nhà thống lý, dưới mấy tầng áp bức của cường quyền, thần quyền và hủ tục phong kiến miền núi, Mị phải sống một chuỗi ngày đau thương, tủi nhục, tăm tối. Mị không chỉ bị hành hạ về thể xác mà còn bị đày đoạ về tinh thần. Mị bị đối xử như con vật, thậm chí không bằng con vật: “Bây giờ thì Mị tưởng mình cũng là con trâu, tưởng mình là con ngựa, là con ngựa phải tới ở các tàu ngựa nhà này đến tàu ngựa nhà khác, ngựa chỉ biết ăn cỏ, biết làm mà thôi. Mị cúi mặt, không nghĩ ngợi gì nữa… Con trâu, con ngựa làm còn có lúc, đêm nó còn được đứng gãi chân, đứng nhai cỏ, đàn bà con gái nhà này thì vùi vào việc làm cả đêm cả ngày” (VHTG – tr.91). Sự đau khổ tủi cực đã cướp đi mất tuổi xuân của Mị, biến cô trở thành một kẻ cam chịu. Cô gái Mèo trẻ đẹp, tài hoa, giàu lòng yêu đời thuở nào giờ gần như đã chết, chỉ còn người đàn bà thân xác héo khô, tâm hồn lạnh lẽo, trống vắng. Mị ngày càng không nói. Mị mất hết cảm giác thời gian: không dĩ vãng, không hiện tại, không tương lai. Cuộc đời Mị chỉ còn thu nhỏ lại qua cái “lỗ vuông” của chiếc cửa sổ “bằng bàn tay – trăng trắng, không biết là sương hay là nắng”. Mị gần như tê liệt sức sống, “lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa”. Bằng những chi tiết chân thực gợi cảm như thế, Tô Hoài đã làm cho bức tranh hiện thực và giá trị nhân đạo của tác phẩm càng thêm sinh động, vừa có chiều rộng, vừa có chiều sâu.

Sự xuất hiện của nhân vật chính – A Phủ – cũng bị bắt làm con ở trừ nợ đã làm hoàn chỉnh thêm bức tranh hiện thực, giá trị tố cáo và nội dung nhân đạo của tác phẩm. A Phủ là một chàng trai khoẻ mạnh, gan góc, yêu chính nghĩa, vốn không nợ nần gì nhà thống lý Pá Tra, lại lao động giỏi, sống phóng khoáng tự do như con chim trời giữa núi rừng Tây Bắc, vậy mà cuối cùng cũng không thoát khỏi ách áp bức của bọn chúa đất phong kiến, phải rơi vào thân phận kẻ nô lệ suốt đời trong nhà thống lý Pá Tra. Chỉ vì dám đánh lại con quan là A Sử trong việc phá đám chơi ngày tết mà A Phủ bị bắt về làm đứa ở gạt nợ, làm con trâu, con ngựa cho nhà thống lý. Cũng như Mị, những ngày sống ở nhà Pá Tra, A Phủ phải chịu biết bao sự đoạ đày nhục hình cả thể xác lẫn tinh thần. A Phủ gần như tê liệt hết sức phản kháng. Anh đã từng phải ngồi im như tượng đá để chịu đòn và phải bất lực để cho những dòng nước mắt chảy dài trong những đêm bị trói đứng trong góc nhà, thần chết dường như đã vẽ những nét đen ngòm trên “hai hõm má xám đen lại” vì tuyệt vọng và đau khổ của A Phủ.

Nếu không có một sự đồng cảm lạ lùng giữa Tô Hoài và cuộc đời của những Mị, những A Phủ, những con người Tây Bắc yêu thương, nhà văn đã không thể nào xây dựng thành công số phận khổ đau của nhân vật đến như vậy. Đọc những trang sách của Tô Hoài viết về số phận bi thương của Mị và A Phủ, ta có cảm giác đó không còn là những dòng chữ lạnh lùng nữa mà là những dòng nước mắt chảy thẳng từ trái tim tràn đầy tình thương yêu nhân đạo của tác giả khóc thương cho thân phận xấu số của nhân vật.

Giá trị nhân đạo thấm thía trong “Vợ chồng A Phủ” còn toát lên từ sự tố cáo gay gắt thế lực thực dân phong kiến. Điển hình cho thế lực đói lập, chà đạp lên cuộc sống con người là cha con thống lý Pá Tra. chúng đã lợi dụng sức mạnh cường quyền, thần quyền, hủ tục để biến người lao động thành nô lệ không công và đối xử với họ lạnh lùng, tàn nhẫn như đối xử với con vật. Có biết bao nhiêu người phụ nữ, thanh niên như Mị và A Phủ đã bị biến thành công cụ lao động, sống đời sống con trâu, con ngựa trong nhà thống lý? Có biết bao nhiêu người đã bị trói đứng, thậm chí trói cho đến chết ở nhà Pá Tra? Chúng ta không thể biết con số cụ thể, nhưng qua số phận Mị và A Phủ, người đọc vẫn cảm nhận, căm ghét sự tàn bạo, vô lương tri cua bọn cường hào miền núi.

Bên cạnh thái độ cảm thông, chia sẻ và lên án, tố cáo, “Vợ chồng A Phủ” còn là một bài ca ca ngợi những nét phẩm chất tốt đẹp của người lao động, đặt niềm tin, sự trân trọng, nâng niu đối với khát vọng tốt đẹp của những con người bị đày đoạ, đau khổ. Đó là sự kế tục chủ nghĩa nhân đạo truyền thống, đồng thời phát triển lên một mức cao hơn, Người đọc không chỉ thương một cô Mị khốn khổ, bị đoạ đày, mà còn yêu một cô Mị tài hoa, ham sống, giàu lòng hiếu thảo, đức hi sinh và tinh thần vật lộn, đấu tranh để vượt lên hoàn cảnh. “Điều kỳ lạ là dẫu trong cùng cực đến thế, mọi thế lực tội ác cũng không giết được sức sống con người. Lay lắt, đói khổ, nhục nhã, Mị vẫn sống âm thầm, tiềm tàng, mãnh liệt” (Tô Hoài). Ách thống trị của cường quyền, thần quyền, hủ tục đã không giết hẳn hình ảnh người con gái tài hoa, yêu đời trong Mị. Dưới đống tro tàn của hiện tại, mầm sống, niềm khát khao hạnh phúc vẫn âm ỉ cháy trong Mị, chỉ chờ một sự tác động ngoại cảnh để bùng dậy, cháy sáng. Đêm tình mùa xuân và cảnh Mị cởi trói cho A Phủ là những trang văn hay nhất trong tác phẩm, đánh dấu sự bừng tỉnh của con người đấu tranh trong Mị. Bên cạnh Mị, hình ảnh A Phủ, chàng trai Mèo dũng cảm, gan góc, phóng khoáng của thiên nhiên Tây Bắc cũng là một nhân vật để lại nhiều ấn tượng với người đọc. Mị và A Phủ tiêu biểu cho tâm hồn, vẻ đẹp con người miền núi và thái độ trân trọng, ngợi ca của tác giả.

Giá trị nhân đạo trong “Vợ chồng A Phủ” còn mang nét mới, tiến bộ hơn chủ nghĩa nhân đạo truyền thống. Đó là nhà văn đã chỉ ra con đường giải phóng thực sự của người lao động là đi từ tự phát đến tự giác, từ tăm tối đau thương vươn lên ánh sáng của tự do và nhân phẩm nhờ sự dìu dắt của Đảng như một tất yếu lịch sử. Con đường đó được nhà văn miêu tả cụ thể qua quá trình đấu tranh của Mị và A Phủ từ lúc trốn khỏi Hồng Ngài đến lúc trở thành những người du kích Phiềng Sa. Từ những con người nô lệ u mê, câm lặng, họ đã tự phá bỏ sợi dây trói hữu hình thắt chặt cuộc đời họ trong nhà thống lý Pá Tra để đi theo tiếng gọi của tự do, để giác ngộ một chân lý: chỉ có cách cầm súng đánh lại bọn thống trị, họ mới có thể có được cuộc sống bình yên, hạnh phúc.

Phân tích giá trị hiện thực và nhân đạo trong tác phẩm Vợ chồng A phủ của Tô Hoài – Bài làm 3

Một tác phẩm có giá trị là thông qua việc phơi bày chân thực về cuộc sống, số phận của con người, tác phẩm đã lên án, tố cáo các thế lực chà đạp lên quyền sống của con người, đồng cảm với ước mơ, khát vọng chính đáng của con người, trân trọng phẩm chất tốt đẹp của con người và, mở ra hướng giải quyết cho con người thoát khỏi tình cảnh hiện tại. Những tác phẩm có giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc thể hiện góc nhìn tinh tế và nhạy bén, cũng như tấm lòng của nhà văn hướng về con người và cuộc đời. Thông qua cuộc đời, số phận của Mị và A Phủ, cuộc sống của con người miền núi hiện lên thê thảm, nhưng điều đáng quý trong họ là dù có lúc bị bóc lột, chà đạp thì lòng yêu đời và khát vọng sống vẫn âm ỉ sục sôi, chỉ chờ cơ hội là bùng phát mãnh liệt.

Bức tranh hiện thực trong "vợ chồng A Phủ" trước hết là bức tranh về cuộc đời tăm tối của người nông dân miền núi khi cách mạng chưa giải phóng. A Phủ và Mị hiện lên thân phận những con người đầy tủi nhục. Họ đều là nạn nhân bi thảm của cái nghèo truyền kiếp, của những món nợ truyền kiếp.

Với Mị, từ đời cha mẹ đã không có bạc để cưới nhau, phải đi vay nặng lãi nhà thống lý Pá Tra mới có thể cưới nhau được. Món nợ ấy theo suốt cuộc đời cha mẹ Mị và mỗi năm cũng chỉ trả được phần lãi là một nương ngô. Mẹ Mị chết, món nợ vẫn còn đó. Mặc dù không muốn, Mị vẫn bị bắt làm con dâu gạt nợ nhà thống lý Pá Tra. Mị trở thành nạn nhân của món nợ truyền kiếp ấy. Cả cuộc đời Mị chỉ là sống và trả cho xong món nợ kia.

Còn với A Phủ, số phận cũng có hơn gì. Vì nghèo đói, cả gia đình A Phủ đã chết trong một nạn dịch. Cũng vì cuộc sống nghèo khổ mà A Phủ mới bị người ta bắt đem bán cho một người Thái ở bản dưới. Chốn về những bản vùng cao mới 10 tuổi, A Phủ đã phải đi làm thuê để kiếm sống. Ngoài cái vòng vía đeo trên cổ, A Phủ không có bạc, không có ruộng. Cho nên mặc dù con gái trong làng vẫn nói: "đứa nào có được A Phủ cũng bằng có được con trâu tốt trong nhà, chẳng mấy mà giàu", vì A Phủ rất giỏi bẫy hổ, săn bò tót lại biết đúc lưỡi cày…, nhưng A Phủ chẳng thể lấy được vợ. Rồi vì đánh A Sử mà A Phủ bị buộc phải làm người gạt nợ cho nhà thống lý Pá Tra. Ta thấy như A Phủ đã bị buộc phải điểm chỉ bằng cả bàn tay của mình và bức văn tự bán chính cuộc đời của mình, sự sống của mình, hơn thế nữa, còn bán cả cuộc sống của những kiếp con, kiếp cháu mình cho bọn nhà giàu cho bọn nhà giàu để gạt nợ.

Đối với A Phủ cũng vậy, kiếp sống của A Phủ không đáng giá bằng kiếp sống của một con bò. Để "mất một con bò", A Phủ lại bị thống lý Pá Tra trói đứng vào cột chờ chết. Thông qua cuộc đời và số phận của Mị và A Phủ, Tô Hoài đã làm nổi bật giá trị tố cáo của tác phẩm bởi chính cuộc đời của Mị và A Phủ trong cái kiếp sống trâu ngựa trong xã hội ấy đã làm một bản cáo trạng hết sức hùng hồn về tội ác của xã hội giai cấp lúc bấy giờ, là nhân chứng sống để phơi bày cái tàn bạo của xã hội mà giai cấp thống trị đè nén, áp bức, chà đạp lên cuộc sống của con người như thời trung cổ. Đồng thời trong mảng đời sống viết về Hồng Ngài những ngày cách mạng chưa được giải phóng còn làm hiện lên những bộ mặt quỷ dữ của bọn thống lý Pá Tra, của bọn quan lang thống quán,. Bọn chúng ngỡ như có thể ăn sống nuốt tươi những con người nghèo khổ như A Phủ và Mị. Chúng ngang nhiên đánh người, bắt người một cách vô tội vạ, cuộc xử kiện của bọn quan lang đối với A Phủ thật rùng rợn…. Tác phẩm đã làm nổi bật những tội ác vô cùng khủng khiếp của chúng để làm đậm lên bức tranh hiện thực, tăm tối của xã hội thực dân phong kiến ở một vùng núi cao.

Viết "vợ chồng A Phủ", Tô Hoài đã phản ánh sự vận động của tính cách (từ cam chịu đến vùng đứng lên) của số phận gắn liền với sự vận động của đời sống xã hội để khẳng định quy luật tất yếu: có áp bức, có đấu tranh. Cái logic tất yếu của cuộc đấu tranh ấy là đi từ tự phát đến tự giác. Nhưng Tô Hoài không phản ánh cái quy luật, cái logic tất yếu kia bằng những triết lý khi than mà bằng sự vận động của hình tượng nghệ thuật. 

Mị và A Phủ đã bị dồn xuống con đường cùng. A Phủ nếu không được Mị cứu thì chắc đã chết trong cảnh bị trói đứng rồi. Mị cứu A Phủ bằng cả một tấm lòng nhân hậu của mình, bằng niềm cảm thông của những người cùng cảnh ngộ. Mị không nghĩ tới việc bỏ trốn bởi Mị sẵn sàng trói thay vào đó cho đến chết. Nhưng khi cứu được A Phủ, cái bản tính cứng cỏi của mộ cô Mị năm nào đã trỗi dậy mạnh mẽ, cái sức sống tiềm tàng ở cái giây phút bị thử thách quyết liệt nhất đã bật dậy bằng niềm khao khát tự do, thành sức mạnh để Mị vượt qua tất cả những ràng buộc của luật lệ hà khắc mà vùng lên để tự giải phóng mình. Mà chạy theo A Phủ để thoát khỏi cuộc sống tăm tôi suốt bao nhiêu năm Mị đã phải chịu đựng. Bởi thế hành động của Mị đã diễn ra một cách hết sức tự nhiên. Tô Hoài đã chuẩn bị cho hành động này của Mị ngay từ khi cô nói với người cha của mình để không bán cô cho nhà giàu, để cô có thể tự tay mình trồng ngô trả nợ thay cho bố mẹ. Cái sức mạnh ấy ngỡ đã chìm đi, đã lụi tàn nhưng rồi nó được hồi sinh, được lớn lên cùng với sự nhận thức về cuộc sống đầy đau khổ của mình và trở thành hành động trong đêm cứu A Phủ như ta đã thấy.

Cuộc vùng dậy với sức mạnh quật khởi của Mị cũng là cuộc vùng dậy của những người nông dân miền núi khi bị dày xéo một cách tàn khốc. Nhưng họ không chỉ vùng dậy để chống lại cái ác, cái tàn bạo, cái dã man để giải phóng cho riêng mình. Thời đại đã mở cho họ một chân trời tự do, đó là các vùng giải phóng. Cho nên con đường mà Mị và A Phủ đến khu du kích Phiềng Sa hiển nhiên là con đường tất yếu. Nhân vật của Tô Hoài không thể rơi vào cảnh ngộ bế tắc (Tắt đèn của Ngô Tất Tố là một điển hình). Mị và A Phủ đã tự tìm đến khu du kích Phiền Sa, mới đầu cũng không phải là đi tìm cách mạng nhưng về sau, được giác ngộ bởi phong trào du kích ở Phiềng Sa, bởi "người Đảng", Mị và A Phủ đã đến với kháng chiến, đến với cách mạng, trở thành những quần chúng tích cực. A Phủ còn trở thành đội trưởng đội du kích tham gia trực tiếp vào cuộc chiến đấu tiêu diệt đồn bản Pe, giải phóng quê hương.

Với cuộc đời và số phận của hai nhân vật Mị và A Phủ, Tô Hoài đã thể hiện một cảm quan nhân đạo hết sức mới mẻ và sâu sắc. Tô Hoài đã trân trọng, nâng niu những con người, những cuộc đời, những số phận đầy đau thương ấy.

Ở nhân vật Mị, người con gái nghèo khổ này mặc dù là nạn nhân của cái nghèo truyền kiếp nhưng Mị vẫn là một bông hoa tươi thắm nhất của núi rừng. Mị chẳng những xinh đẹp mà còn tài hoa. Mị chẳng những có tâm hồn phóng khoáng, có tình yêu mãnh liệt với cuộc sống tự do mà còn là một người có tài thổi sáo, thổi lá cũng hay như thổi sáo. Dưới ngòi bút của Tô Hoài, Mị còn là cô gái có bản lĩnh, một bản lĩnh gan góc, cứng cỏi. Mị sẵn sàng chọn lấy cái chết để không phải sống nhục, sống đau khổ trong chốn địa ngục trần gian. Khi bị đè nén đến cùng cực, sức sống tiềm tàng của Mị cũng không hề bị lụi tàn. Ngược lại, sức sống ấy càng trở nên mạnh mẽ hơn để giúp Mị giải thoát số phận của mình và sau này đến với kháng chiến. Mị trở thành biểu tượng cho sức sống, cho vẻ đẹp của những người thiếu nữ vùng cao. Tô Hoài đã trân trọng, đã nâng niu trong từng bước đi sự thay đổi trong số phận của người con gái nghèo khổ này.

Với A Phủ cũng vậy, Tô Hoài đã đem đến cho nhân vật này những màu sắc tươi đẹp nhất khi vẽ chân dung cậu bé nghèo khổ đã trở thành người ở gạt nợ một cách hết sức phi lý, cũng chính là người có tấm lòng hào hiệp, là người mà con gái trong lòng ai cũng ao ước: "đứa nào có A Phủ cũng bằng có được con trâu tốt trong nhà, chẳng mấy mà giàu". A Phủ được thể hiện một cách đậm nét nhất ở quá trình đến với cách mạng sau này. Nhân vật A Phủ trở thành biểu tượng cho quá trình giác ngộ, cho sự đấu tranh mạnh mẽ của những người nông dân miền núi nói chung. Khắc họa một nhân vật như thế, ngòi bút của Tô Hoài đã thể hiện một tinh thần nhân đạo mới, tinh thần nhân đạo công sản: vừa yêu thương, vừa trân trọng những con người lao động nghèo khổ, lại vừa mở ra cho họ con đường giải phóng. Từ cuộc đời và số phận của hai nhân vật này, nhà văn muốn khẳng định những giá trị lớn lao của cuộc sống mới, cuộc sống kháng chiến đối với cuộc đời của những con người từng chịu bao đau khổ trong xã hội cũ.

Qua cuộc đời, tâm trạng của Mị trong đêm tình mùa xuân, Tô Hoài đã tố cáo mạnh mẽ hiện thực xã hội miền núi trước cách mạng với chế độ thống trị khắc nghiệt, với những phong tục tập quán đã chà đạp, đè nén, vùi dập con người, cướp đi quyền hạnh phúc của con người, biến mỗi kiếp người trở thành kiếp trâu, kiếp ngựa. Đồng thời tác giả cũng bộc lộ niềm cảm thông sâu sắc, trân thành trước cuộc đời của những con người có số phận bất hạnh. Tô Hoài còn trân trọng, nâng niu những phẩm chất tốt đẹp của người dân lao động miền núi ở cả Mị và A Phủ, đó là sự trân trọng sức sống tiềm tàng của cả hai nhân vật này. Đó cũng chính là những giá trị hiện thực và nhân đạo mà tác phẩm mang lại.

Phân tích giá trị hiện thực và nhân đạo trong tác phẩm Vợ chồng A phủ của Tô Hoài – Bài làm 4

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công đã đem đến cho văn nghệ sĩ nước ta một cuộc tái sinh nhiệm màu. Các nhà văn, nhà thơ đã đứng lên dưới ngọn cờ cách mạng, với ý thức công dân sâu sắc, tích cực sáng tác phục vụ xã

hội mới. Tô Hoài là một trong những nhà văn hiện thực sớm đến với cuộc sống lớn của nhân dân. Trong kháng chiến chống Pháp, ông đã cùng bộ đội tham gia chiến dịch Tây Bắc giải phóng đồng bào ở ba tỉnh Sơn La, Lai Châu, Hoàng Liên Sơn. Trước mắt Tô Hoài bây giờ là một thế giới mới với những phong cảnh mới, con người mới, vấn đề xã hội mới. Ngòi bút của ông vươn ra khỏi làng Nghĩa Đô bé nhỏ để hướng đến miêu tả, tái hiện một vùng đất hết sức phong phú và cũng hết sức kì lạ của đất nước: vùng Tây Bắc. Và cũng như nhiều nhà văn, nhà thơ khác, Tô Hoài đã trăn trở “nhận đường” và rèn luyện  cho mình một thế giới quan và nhân sinh mới, xác định một phương pháp sang tác mới phù hợp với thời đại. Kết quả của những chuyến đi và niềm trăn trở  nhận đường ấy là tác phẩm Truyện Tây Bắc gồm ba truyện Cứu đất cứu mường, Mường giơn và Vợ chồng A Phủ, Truyện Tây Bấc chứa đựng giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo thông qua việc miêu tả cuộc đời và số phận của hai nhân vật trung tâm là Mị và A Phủ.

Trong Vợ chồng A Phủ, Tô Hoài kể về cuộc đời đầy gian truân và đau khổ của hai vợ chồng người Mèo là Mị và A Phủ. Họ vốn là những người nô lệ trong nhà thống lí Pá Tra; Mị bị bắt về làm con dâu gạt nợ, A Phủ vì dám đánh bại con trai nhà thống lí nên cũng phải làm người ở để đền tội với chủ.

Trong cảnh ngộ tối tăm ấy, họ đã gặp gỡ, đồng cảm và giúp nhau thoát khỏi nhà Pá Tra tìm đến vùng Phiềng Sa. Tại đây họ đã trở thành vợ chồng. Giữa lúc bọn lính Pháp đến đánh phá và cướp bóc ở Phiềng Sa, cán bộ của Đảng đã đến để giúp đồng bào các dân tộc tự bảo vệ cuộc sống của mình. Mị và A Phủ gặp A Châu, một cán bộ của Đảng, kết làm anh em rồi thành đội viên du kích. Nhớ lại thời điểm sáng tác Vợ chồng A Phủ, nhà văn Tô Hoài viết: “Câu chuyện Vợ chồng A Phủ của tôi đã xây dựng được bằng mắt thấy tai nghe và cảm nghĩ về những con người và sự việc ấy trong cuộc chiến đấu giải phóng quê hương của các dân tộc thiểu số anh em ở biên giới Tây Bắc của đất nước". Qua câu nói đó, chúng tôi đã nhận thấy giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của tác phẩm đã được nhà văn Tô Hoài xây dựng một cách có ý thức.

Giá trị hiện thực của Vợ chồng A Phủ thể hiện trước hết ở việc trình bày chân thực cuộc sống đau thương, tăm tối đầy bi kịch của người dân miền núi Tây Bắc dưới ách phong kiến nặng nề và sự bóc lột của thực dân Pháp. Giá trị hiện thực của tác phẩm còn gắn liền với sự tố cáo, vạch trần tội ác của bọn phong kiến (thống lí, thổ li, lang đạo) ở vùng cao.

Hình tượng nhân vật Mị là tượng trưng cho cái đẹp bị vùi dập. Cô gái trẻ xinh đẹp như một bông hoa của núi rừng đó bị A Sử cướp về làm dâu. Trong ngôi nhà giống như một tù ngục đó, Mị suốt ngày “lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa”, số phận của Mị chẳng khác nào số phận của kiếp ngựa trâu vì giá trị của con người không được xem trọng, con người chỉ như một cái máy để làm việc. Thậm chí, Tô Hoài viết ‘‘con ngựa, con trâu làm còn có lúc, đêm nó còn được đứng gãi chân, đứng nhai cỏ, đàn bà con gái nhà này thì vùi vào việc cả đêm lẫn ngày”. Lẽ ra trong cuộc sống bình thường những người con gái như Mị phải được vui chơi, đi dự hội hè, tìm thấy tình yêu và hạnh phúc cho mình. Nhưng ngược lại, đến ngày Tết, A Sử lại đi chơi với bạn trai, còn Mị thì bị trói đứng trong buồng tối.

Cùng chung nghịch cảnh với Mị là A Phủ, nhân vật trung tâm thứ hai của truyện. Nếu Mị là hình tượng tượng trưng cho cái đẹp bị vùi dập thì A Phủ tượng trưng cho sự sống, sức lao động và lòng khao khát tự do của con người bị kìm hãm. A Phủ chạy nhanh như con ngựa, biết đúc lưỡi cày, lưỡi cuốc, cày bừa rất giỏi và săn bò tót rất thành thạo. Lẽ ra con người đó phải được tự do giữa núi rừng đế phát huy sức mạnh cùa mình. Nhưng chỉ vì A Phù bất binh phản ứng, đánh lại A Sử, kẻ đã phá vỡ cuộc vui ngày Tết, mà A Phủ đã bị bắt về làm kẻ nô lệ trong nhà thông lí, ở đây anh phải đi đốt rừng, săn bò tót, bẫy hổ, chăn ngựa quanh năm. Một lần để cho hổ ăn thịt mất một con bò mà A Phủ bị thống lí trói đứng suốt mấy ngày trong góc nhà. Hình tượng A Phủ thể hiện một cuộc sống bị trói buộc, tượng trưng cho sức lao động bị bóc lột và đè nén.

Giá trị hiện thực của truyện ngắn Vợ chồng A Phủ không chỉ bộc lộ qua việc trình bày chân thực cuộc sống đầy bi kịch của nhân dân miền núi Tây Bắc nói chung, đồng bào dân tộc H’Mông nói riêng mà còn thể hiện qua việc khắc họa những bộ mặt tàn bạo của cha con thống lí Pá Tra và A Sử của bọn lí dịch, quan lại, thống quản. Đây là nguyên nhân trực tiếp gây nên nỗi khổ của những người dân thấp cổ, bé miệng như Mị và A Phủ. Bộ mặt tàn bạo của chúng không chỉ hiện ra qua những hành động đánh đập dã man đối với kẻ ăn người ở trong nhà mà còn qua những lời nguyền rủa rất thâm hiểm: “đời mày, đời con, đời cháu mày tao cũng bắt thế, bao giờ hết nợ tao mới thôi”. Có lẽ đó không chỉ là lời nguyền rủa của một hai cá nhân mà còn là lời nguyền rủa của cả một chế độ xã hội. Bao giờ còn chế độ xã hội đó thì vẫn còn những kẻ ác như Pá Tra và những nạn nhân của hắn như Mị và A Phủ.

Xã hội phong kiến Việt Nam vốn đã lạc hậu, nói về nguyên nhân của những bi kịch mà người dân miền núi phải chịu đựng, Tô Hoài cho rằng đứng đằng sau thế lực phong kiến tại chỗ là bóng dáng của quân đội xâm lược phương Tây tràn đến. Trong bức tranh hiện thực của tác phẩm Vợ chồng A Phủ hình ảnh giặc Pháp hiện lên như là chỗ dựa, là thế lực mà bọn phong kiến vùng cao sẵn sàng cấu kết để duy trì ách thống trị của chúng. Người dân Tây Bắc chỉ có thể sống được một cuộc đời ấm no, hạnh phúc khi này chấm dứt được cả hai thế lực trên đây. Vấn đề áp bức giai cấp gắn liền với vấn đề áp bức dân tộc là một nét căn bản tạo nên giá trị hiện thực của Vợ chồng A Phủ

Gắn liền với giá trị hiện thực của Vợ chồng A Phủ là giá trị nhân đạo xuất phát từ cái nhìn, tấm lòng, tình thương yêu, nỗi xúc động, của nhà văn Tô Hoài trước số phận cùa Mị và A Phủ trong truyện ngắn này. Nhà văn bày tỏ sự thông cảm với nỗi đau khổ của người phụ nữ bị gả bán như một thứ hàng hóa. Chỗ nào nhà văn miêu tả nỗi đau của Mị là ở chỗ đó ngòi bút của ông cũng run lên vì xúc động. Tô Hoài viết: “Đời người đàn bà lấy chồng nhà giàu ở Hồng Ngài thì chỉ biết đi theo đuôi con ngựa của chồng”. Mị chợt nhớ lại câu chuyện người ta vẫn kể: "Đời trước ở nhà thống lí Pá Tra có một người trói vợ trong nhà ba ngày, rồi đi chơi, khi về nhìn đến thì vợ chết rồi. Nhờ thế Mị sợ quá, Mị cựa quậy xem mình còn sống hay chết. Cổ tay, đầu, bắp chân bị dây trói xiết lại, đau đứt từng mảnh thịt”. Đọc đến đây ta nhớ lại câu thơ của Nguyễn Du: “Đau đớn thay phận đàn bà”.

Đó là nỗi đau của thân xác, còn nỗi đau tinh thần? Trong hoàn cảnh bị trói buộc Mị nghĩ rằng minh đành ngồi trong một nhà tù chật hẹp nhìn qua một lỗ vuông mà trông đợi cho đến bao giờ chết mới thôi. Dù vậy, khát vọng làm người hạnh phúc không bao giờ lụi tàn trong lòng Mị. Nghe tiếng sáo thổi trong rừng, Mị tha thiết nhớ lại những ngày xuân tươi đẹp của mình và tràn trề một lòng ham sống. Ngòi bút nhân đạo của Tô Hoài đã không dửng dưng với khát vọng đó của Mị.

Giá trị nhân đạo của Vợ chồng A Phủ còn có thể tìm thấy qua việc nhà văn tái hiện quá trình thức tỉnh cách mạng của những người bị áp bức. Như trên đã nói, trong tác phẩm này, chủ đề giải phóng dân tộc gắn liền với chủ đề giải phóng giai cấp nông dân và giải phóng phụ nữ. Mị và A Phủ gặp nhau trong một hoàn cảnh thật éo le, họ là những số phận đang đứng bên bờ vực thẳm. Hai nhân vật ấy đã kháng cự lại cái chết, kháng cự lại số phận để giữ lại cuộc sống. Trong bước đường cùng quẫn, vẻ đẹp của Mị lại hiện ra không chỉ bằng mặt mà cả trong tâm hồn. Điều đó bộc lộ rõ nhất qua thái độ của Mị đối với A Phủ: một thái độ vị tha, cùng gánh chịu khổ đau. Tình yêu của họ đã đến từ việc chia sẻ số phận chung đó. Chính Tô Hoài cũng nhận xét: “cái biểu hiện cởi trói cho A Phủ chỉ xảy ra trong khoảnh khắc nhưng khoảnh khắc có ý nghĩa quyết định và tồn tại đời dời”. Mị cởi trói cho A Phủ rồi tìm đến khu du kích của làng H’Mông hẻo lánh vùng Phiềng Sa. Được A Châu giác ngộ, họ tham gia đội du kích chống Pháp, trở thành những người tự tin vào sức mạnh của mình. Vợ chồng A Phủ đã từng đấu tranh tự phát vươn đến đấu tranh tự giác, từ những phản ứng có tính chất bản năng đến sự phản kháng có ý thức, nhất là khi nhận ra được nguyên nhân đau khổ của mình và lòng dạ của kẻ thù. Có thể nói, qua hình tượng Mị và A Phủ, Tô Hoài đã xây dựng được những nhân vật có tính cách biến đổi theo quá trình của cách mạng.

Giá trị Vợ chồng A Phủ không tách rời với đường lối cách mạng và chính sách dân tộc Đảng Cộng sản là giải phóng những người lao động bị áp bức bóc lột, giải phóng mọi sức sống và vẻ đẹp bị các thế lực đen tối kìm hãm, trói buộc.

Tác phẩm Vợ chồng A Phủ là một bước tiến trong việc nhận thức, khám phá hiện thực kháng chiến, đồng thời cũng là một bước tiến trong việc thể hiện chủ nghĩa nhân đạo theo nhân sinh quan cách mạng. Giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của nó được hòa quyện trong một chất thơ trong sáng, màu sắc dân tộc đậm đà và văn phong giàu tính tạo hình. Với Vợ chồng A Phù nói riêng, Truyện Tây Bắc nói chung, Tô Hoài đã góp phần đổi mới về đề tài miền núi, thực sự bước vào văn học với những hình ảnh phong phú, tươi đẹp và chân thực. Vợ chồng A Phủ tiên báo những thành tựu tương lai trong sáng tác về đề tài miền núi của một lớp nhà văn sung sức xuất hiện sau Cách mạng tháng tháng Tám như: Nguyễn Ngọc, Nông Quốc Chấn, Ma Văn Kháng, Vi Hồng…

Phân tích giá trị hiện thực và nhân đạo trong tác phẩm Vợ chồng A phủ của Tô Hoài – Bài làm 5

Tây Bắc – mảnh đất đau thương mà anh dũng, đẫm nước mắt tủi hờn mà vời vời chất thơ. Tây bắc – “mảnh đất để thương để nhớ cho tôi nhiều quá”. Đó là những lời tri ân sâu sắc của nhà văn Tô Hoài dành cho Tây Bắc sau chuyến đi bộ đội giải phóng ở nơi này. Và cũng từ đó, “Vợ chồng A Phủ” (trích trong Truyện Tây Bắc) được ra đời. Tác phẩm đã ghi lại một cách chân thực nhất về cuộc sống của những con người nơi đây, đồng thời thấm đượm giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo mà Tô Hoài đã thể hiện trong đó.

Cả cuộc đời Tô Hoài đã dành hơn sáu thập kỷ cho sáng tác nghệ thuật. Với ông, một khi đã viết văn là phải viết một cách chân thực nhất, dù cho sự thật có phũ phàng đến thế nào, có phá vỡ cả những nét đẹp của thần tượng trong lòng người đọc thì cũng phải tôn trọng sự thật. Bởi thế, Vợ chồng A Phủ đã trở thành một bức khắc họa rõ nét về cuộc sống khổ đau, cam chịu của những người nông dân lầm lũi sống dưới cường quyền áp bức bọc lột. Nhưng đồng thời, nhà văn cũng đã thể hiện niềm tin chiến thắng vào những con người yêu cuộc sống, khát vọng tự do dù có bị trà đạp đến thế nào đi nữa. Giá trị hiện thực và nhân đạo đã được Tô Hoài thể hiện rất sâu sắc qua những trang văn chân thực trong tác phẩm.

Giá trị hiện thực ở đây được thấy rất rõ qua Mị, qua A Phủ, qua những thói đàn áp, ngang ngược của bọn cường quyền ác độc. Ngay từ những câu văn mở đầu, Tô Hoài đã để Mị xuất hiện như một cái xác không hồn: Lúc nào cũng vậy, dù quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi hay đi cõng nước dưới khe suối lên, cô ấy cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi. Tác giả cũng không quên kể về những công việc nhàm chán lặp đi lặp lại hàng ngày của Mị. Mị phải về làm dâu nhà thống lý để trừ nợ cho cha mẹ. Cha mẹ Mị lúc cưới không có tiền nên phải vay nhà hắn. Năm nào cũng trả nợ mà vẫn không hết nợ. Đến khi Mị lớn, nợ cũng vẫn chưa trả được hết. Bố Mị đành phải gượng ép gả Mị cho nhà thống lý để được hắn xóa nợ. Mị đã từng nghĩ đến cái chết nhưng nếu chết bố Mị còn khổ hơn bây giờ gấp trăm gấp nghìn lần nên Mị không dám chết nữa. Mị cam chịu. Như vậy, bọn cường quyền, đại diện ở đây là thống lý đã ép Mị, ép bố mẹ Mị, ép những người nông dân đến bước đường cùng, đến ngay cả cái chết họ cũng không được quyền lựa chọn. Mị vốn là một cô gái trẻ đẹp có sức sống tiềm tàng, đầy khát vọng tự do và bao hoài bão đẹp cho tương lai phía trước, nhưng tất cả đã bị vùi dập, bị trà đạp bởi sự tàn nhẫn của thống lý, của những người cầm quyền như thống lý. Trên danh nghĩa là làm dâu nhưng thực chất là làm người ở, làm nô lệ. Mị tưởng mình là con trâu, con bò làm suốt đêm, suốt tháng, suốt năm. Trái tim Mị trai lì, Mị quên mất cả cái ý thức về sự sống và cái chết. Mị bị giam cầm trong cái cường quyền áp bức. Có lẽ, cuộc đời Mị cũng mờ mờ ảo ào như cái lỗ bé bằng bàn tay ở phòng Mị, mỗi lần nhìn ra chỉ thấy trăng trắng không biết là sương hay là nắng.

Và rồi, đến lượt A Phủ. A Phủ cũng là một hiện thân của hàng triệu, hàng nghìn con người đang ngày ngày phải sống trong ách áp bức, bóc lột của bọn cầm quyền gian ác. A Phủ lọt vào nhà thống lý cũng vì không có tiền nộp phạt nên phải ở trừ nợ. A Phủ bị phạt vì đã đánh A Sử bị thương. Nhưng là do A Sử ngang ngược đi gây sự với đám trai làng trước nên mới bị đánh. Vậy mà người chịu phạt lại là A Phủ. Ở cái chế độ cường quyền ấy, pháp lý luôn thuộc về kẻ có tiền. Huống chi A Phủ xuất thân từ một đứa trẻ mồ côi, sống lang thang, đi ở cho nhà này, nhà khác kiếm sống qua ngày. A Phủ là niềm ước mơ của nhiều người con gái nhưng vì mồ côi cha mẹ, nên A Phủ sẽ chẳng bao giờ lấy được vợ. Cái hủ tục của xã hội cũ lấy đi hạnh phúc, lấy đi tình yêu đôi lứa của A Phủ. Đặc biệt, cảnh A Phủ bị xử phạt ở nhà thống lý là một bức tranh chân thực nhất, rõ nét nhất về sự tha hóa, bạo tàn của chế độ cũ. Trong cuộc xét xử ấy, một đằng hút thuốc phiện phè phỡn, một đằng ra sức đánh đập, chỉ còn lại một mình A Phủ là cam chịu hết trận đòn này đến trận đòn khác. Cho đến khi A Phủ nộp phạt mới thôi không phải chịu đòn. Một người nghèo khổ như A Phủ làm sao có tiền để nộp, đương nhiên, A Phủ phải vay của thống lý. Đây chính là con đường dẫn A Phủ trở thành con nợ của nhà hắn. Vậy là lại thêm một người nữa bắt buộc phải bán rẻ cuộc đời mình cho cường quyền, phải cam chịu sự trà đạp, đàn áp bất nhân, bất nghĩa. Cả Mị và A Phủ đều chung một số phận khổ đau, bị trà đạp lên cả thể xác lẫn tâm hồn. Ngòi bút tinh xảo của Tô Hoài đã vẽ lên Mị, lên A Phủ những nét vẽ rất chân thực và đầy xúc động.

Tuy nhiên, dù ở trong hoàn cảnh bị áp bức ấy, dù phải sống giữa sự nhơ bẩn, trái tim Mị tưởng chừng như đã chết bỗng được hồi sinh trong đêm tình mùa xuân. Nhà văn đã dành những lời ngợi ca, những câu chữ đầy ưu ái dành cho Mị. Mị uống rượu. Men rượu đã đưa Mị về với những ngày tháng đầy tươi đẹp khi chưa về nhà thống lý làm dâu. Mị say. Say nhưng là tỉnh. Tiếng sáo, tiếng hát thiết tha bồi hồi làm tim Mị xao xuyến. Mị chợt nhận ra sự thật nghiệt ngã của cuộc đời mình hiện diện ngay trước mắt. Mị muốn chết. Chỉ có có chết mới có thể giải thoát Mị.

Như vậy, giá trị hiện thực của tác phẩm đã thể hiện rất chân thực những khổ đau, những cam chịu của người nông dân lầm lũi, vất vả qua nhân vật Mị và A Phủ. Qua đó, lên án bọn cường quyền đã áp bức bóc lột người dân lao động, đã đẩy họ vào bước đường cùng đến nỗi không cả có quyền lựa chọn cái chết.

Nhưng ở Mị và A Phủ còn toát lên giá trị nhân đạo đầy nhân văn, sâu sắc. Tô Hoài đã trao trọn niềm tin cho người con gái bạc mệnh ấy về một ngày mai tươi sáng. Trong Mị, sự sống vẫn âm thầm nhen nhóm. Đêm nào, Mị cũng trở dậy thổi lửa để sưởi. Dù có đêm bị A Sử đạp ngã ngay xuống cửa bếp cũng chẳng có ý nghĩa gì với Mị. Mị vẫn trở dậy, vẫn nhóm lửa, ngọn lửa của sự sáng, của sự hi vọng. Và rồi, cái đêm định mệnh cũng đến. Mị quyết định cởi dây trói cho A Phủ. Mị nghĩ nếu ở đây, dần dần Mị cũng chết, nếu nhà thống lý phát hiện Mị thả A Phủ, Mị cũng sẽ phải chết. Đằng nào cũng chết. Mà cái chết giờ đây chẳng còn nghĩa lý gì với một người đã phải cam chịu quá nhiều như Mị.

Hành động cởi dây trói cho A Phủ vừa thể hiện sự mạnh mẽ trong Mị, vừa trao niềm tin cho những người cùng khổ như Mị. Mặt khác, nhà văn còn muốn nói đến quy luật tự nhiên: khi bị áp bức quá nhiều ắt sẽ có sự vùng dậy, đứng lên. Khi đó, sức mạnh bị dồn nén lâu ngày sẽ bùng cháy vô cùng mạnh mẽ. Đúng vậy, nhà thống lý tàn ác đến thế, Mị cũng chẳng sợ. Cái chết có thể đến với Mị bất cứ khi nào, Mị cũng không hề để ý. Thậm chí, chỉ có cái chết mới giúp Mị được sống. Điều này có vẻ nghịch lý nhưng lại hoàn toàn hợp lý. Bởi sống mà không được làm chính mình, sống mà phải phụ thuộc người khác thì khác gì là đã chết. Thế rồi, Mị cởi trói cho A Phủ. Trong đêm tối, Mị vụt chạy theo A Phủ. Hai con người cùng khổ dẫn nhau đi chạy trốn, đi tìm lại cuộc sống, đi giải phóng chính bản thân mình. Và họ đã thành công.

Đoạn kết, Mị và A Phủ trở thành vợ chồng, họ tham gia vào chiến dịch đấu tranh chống lại phong kiến, chống lại cường quyền, áp bức. Như vậy, cả Mị và A Phủ từ thân phận nô lệ, bị phụ thuộc đã đứng dậy đấu tranh làm chủ cuộc đời mình. Hay như cách nói của Chế Lan Viên thì họ đã đi từ thung lũng đau thương đến cánh đồng bất tận. Hình ảnh Mị và A Phủ thật đẹp, đẹp từ cả hình thể đến nhân cách.

Như vậy, giá trị hiện thực và nhân đạo đã được Tô Hoài thể hiện rất thành công qua hai nhân vật chính A Phủ và Mị. Nhà văn vừa cảm thông, xót thương cho những số phận phải chịu cảnh đời ngang trái, vừa ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp bền bỉ trong họ. Đồng thời, qua đó Tô Hoài đã chĩa thẳng ngòi bút vào thế lực cường quyền áp bức bóc lột, đã trao niềm tin, trao hi vọng cho người nông dân đứng lên tự giải phóng chính mình. Và rồi, tất nhiên chiến thắng luôn dành cho cái thiện, cho chính nghĩa.

Các bài nên tham khảo

Soạn bài thầy thuốc giỏi cốt nhất ở tấm lòng

Soạn bài thầy thuốc giỏi cốt nhất ở tấm lòng I. Đọc – hiểu văn bản Câu 1. Những chi tiết nói về nhân vật Thái y lệnh họ Phạm. - Giới thiệu : + Là quan Thái y ...

Trình bày cảm nhận của em về đoạn văn Sông nước Cà Mau

Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ về đoạn Sông nước Cà Mau (trích Đất rừng phương Nam) của Đoàn Giỏi Bài làm Đất rừng phương Nam là một truyện dài viết cho trẻ em của ...

Phát biểu cảm nghĩ về truyện Thầy thuốc giỏi cốt nhất ở tấm lòng

Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ về truyện Thầy thuốc giỏi cốt nhất ở tấm lòng Bài làm Trong cuộc sống, ai cũng cần có một nghề để lao động, kiếm sống và để phục vụ, ...

Soạn bài sống chết mặc bay

SỐNG CHẾT MẶC BAY (Phạm Duy Tốn) I. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN 1. (Câu 1, Sgk tr 81) Đoạn 1: "Gần một giờ đêm... Khúc đê này hỏng mất": nguy cơ vỡ đê và sự ...

Chứng minh rằng nhân dân Việt Nam từ xưa đến nay luôn luôn sống theo đạo lí Ăn quả nhớ kẻ trồng cây

Chứng minh rằng nhân dân Việt Nam từ xưa đến nay luôn luôn sống theo đạo lí "Ăn quả nhớ kẻ trồng cây". 1. Với từ ngữ đơn giản, mộc mạc, câu tục ngữ ...

Soạn bài ca Huế trên sông Hương

CA HUẾ TRÊN SÔNG HƯƠNG 1. (Câu 1, Sgk tr 103 tập 2) - Cố đô Huế nổi tiếng với các danh lam thắng cảnh như sông Hương, núi Ngự, cầu Tràng Tiền, chùa Thiên Mụ..., ...

Vai trò của cây cối (hoặc của rừng, của các loài động vật hoang dã, của nhiên liệu sạch...) trong việc bảo vệ môi trường sống

Vai trò của cây cối (hoặc của rừng, của các loài động vật hoang dã, của nhiên liệu sạch...) trong việc bảo vệ môi trường sống. Bài làm: Trong cuộc sống của ...

Mùa xuân là Tết trồng cây Làm cho đất nước càng ngày càng xuân. Bác Hồ muốn khuyên dạy chúng ta điều gì qua 2 dòng thơ này?

Mùa Xuân là mùa đâm hoa nảy lộc của muôn loài cây và cũng là mùa có không khí mát mẻ nhất trong năm. Đầu xuân Bác khuyên chúng ta nên hưởng ứng phong trào trồng ...

Hãy trình bày nổi bật lối sống vô cùng giản dị, thanh bạch của Bác Hồ

Như chúng ta đã biết Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ đã giúp đất nước chúng ta thoát khỏi xiềng xích nô lệ của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Người là một người sống ...

Soạn bài những câu hát về tình yêu quê hương đất nước, con người

Soạn bài những câu hát về tình yêu quê hương đất nước, con người I. Đọc – hiểu văn bản Câu 1. Ý kiến b và ý kiến c là đúng. - Khác với những bài ca dao trong ...

Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ